Chào mừng các bạn đến với website Công ty cổ phần cơ khí lắp máy LILAMA.
Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống lò quay dây chuyền sản xuất xi măng công suất 2500tấn Clanhke/ngày
Xem anh phong to
Công nhân, kỹ sư LilamaEMC đang nốc lò nhà máy Xi Măng Thăng Long
(9/10/2007)  Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp cơ khí đã có những tiến bộ lớn trong việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác chế tạo thiết bị và đã tiếp thu được nhiều kiến thức chuyên môn đê dần dần từng bước khẳng định vai trò của ngành cơ khí đối với nền kinh tế quốc dân

1. Giới thiệu tổng quan dự án

Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp cơ khí đã có những tiến bộ lớn trong việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác chế tạo thiết bị và đã tiếp thu được nhiều kiến thức chuyên môn đê dần dần từng bước khẳng định vai trò của ngành cơ khí đối với nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên chúng ta cũng phải thấy rằng tỷ lệ nội địa hoá thiết bị trong ngành xi măng vẫn đang ở mức độ thấp, đang có chiều hướng chững lại, chưa đáp ứng được mục tiêu phấn đấu là làm chủ được dây chuyền sản xuất xi măng về thiết kế công nghệ sản xuất và chế tạo thiết bị.

Những nguyên nhân chủ yếu là: năng lực trình độ nghiên cứu của tư vấn Việt Nam còn yếu (cả về thiết bị công nghệ và thiết bị chế tạo máy). Việc thiết kế công nghệ các dây chuyền xi măng lò quay mới chỉ được thực hiện ở các công đoạn trạm đập, nghiền độc lập, đóng bao và một số kho chứa đơn giản, còn thiết kế đồng bộ một dây chuyền công nghệ thì vẫn chưa làm được. Về thiết kế chế tạo bản vẽ chung chưa đảm nhận được; Năng lực chế tạo thiết bị vẫn còn thiếu (các thiết bị gia công cơ khí lớn hiện đại còn thiếu, chưa đồng bộ, công nghệ chế tạo cơ khí chưa phù hợp để có thể chế tạo được các chi tiết thiết bị đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cao); Năng lực quản lý chế tạo thiết bị đồng bộ xi măng còn bất cập (phụ thuộc vào nước ngoài); Sự liên kết, phối hợp giữa các thiết bị chế tạo cơ khí trong các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam còn lỏng lẻo, chưa tập trung được sức mạnh nội lực. Đây là những tồn tại lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, cụ thể, kết hợp được nỗ lực của các doanh nghiệp với cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước nhằm đảm bảo tính khả thi, từng bước đạt được mục tiêu nội địa hoá đã được Đảng, Nhà nước đề ra.
Một trong những giải pháp quan trọng là đưa các cơ chế chính sách đã được Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện trong các Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển cơ khí, Quy hoạch phát triển xi măng, Chiến lược khoa học công nghệ vận dụng vào thực hiện chế tạo thiết bị cho các dự án xi măng đang triển khai thực hiện.
Vấn đề đặt ra ở đây là sự lựa chọn các dự án xi măng có quy mô, công nghệ phù hợp với trình độ tiếp thu công nghệ và khả năng chế tạo thiết bị của các đơn vị tư vấn và các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam nhằm đảm bảo sự hợp lý và vững chắc của quá trình phát triển năng lực thiết kế và chế tạo thiết bị.
Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam, với vai trò là Trưởng nhóm thiết bị toàn bộ phụ thuộc Ban Chỉ đạo Chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của Thủ tướng Chính phủ, đã đề xuất Đề án: “Chương trình nội địa hoá thiết kế, chế tạo thiết bị đồng bộ cho ngành xi măng” (đã được Bộ Xây dựng phê duyệt tại văn bản số 362/BXD-KHTK ngày 22/3/2005), trong đó lộ trình chế tạo thiết bị đồng bộ cho ngành xi măng có xuất phát điểm là Nhà máy xi măng có công suất 2500T clanhke/ngày, và kết thúc là Nhà máy xi măng có công suất 4000 - 5000T clanhke/ngày, với mục tiêu là khối lượng thiết bị của các dây chuyền sản xuất xi măng do Việt Nam tự thiết kế và chế tạo đạt tỷ lệ 70 - 75% về khối lượng và giá trị lớn hơn 40%.
Để đảm bảo cho việc triển khai được thuận lợi, trong Đề án đã kiến nghị các cơ chế chính sách về thị trường, về tài chính, và về chính sách khoa học công nghệ, trong đó đã lựa chọn đề xuất 8 đề tài nghiên cứu thiết kế chế tạo các thiết bị chính thuộc các công đoạn chủ yếu của dây chuyền 2500 T clanhke/ngày cần được sự hỗ trợ vốn khoa học công nghệ để thực hiện nhằm đạt được kết quả mục tiêu đã đề ra. Những đề tài nghiên cứu khoa học này đã được Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Xây dựng xem xét và chấp nhận hình thành Dự án Khoa học công nghệ “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị chủ yếu cho dây chuyền đồng bộ sản xuất xi măng công suất 2500T clanhke/ngày, thay thế nhập ngoại, thực hiện tiến trình nội địa hoá”. Tổng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ dự án dự kiến gần 215 tỷ đồng, trong đó nguồn kinh phí do ngân sách sự nghiệp khoa học hỗ trợ trên 34 tỷ đồng. Dự án được thực hiện trong thời gian 4 năm (từ năm 2005 đến năm 2008).
Đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống lò quay cho dây chuyền sản xuất xi măng lò quay công suất 2500T clanhke/ngày” là một trong 8 đề tài thuộc Dự án cấp Nhà nước: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các thiết bị chủ yếu cho dây chuyền đồng bộ sản xuất xi măng công suất 2500 T clanhke/ngày, thay thế nhập ngoại, thực hiện tiến trình nội địa hoá” do Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) là Tổ chức chủ trì.
Viện Vật liệu Xây dựng Bộ Xây dựng giao nhiệm vụ kết hợp với công ty Cơ khí lắp máy Lilama (EMC) tổ chức thực hiện đề tài nêu trên (EMC là cơ quan chủ trì đề tài, Viện Vật liệu Xây dựng là cơ quan phối hợp chính). Hai cơ quan thực hiện đề tài trên theo hình thức hợp tác nghiên cứu khoa học công nghệ.

2. Mục tiêu (nhiệm vụ) của đề tài

- Làm chủ kỹ thuật công nghệ sản xuất và thiết bị kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công hệ thống lò nung clanke xi măng công suất 2500 tấn/ngày.
- Làm chủ trong công tác thiết kế chế tạo và công nghệ chế tạo, lắp đặt những thiết bị chính trong hệ thống lò nung clanhke xi măng công suất 2500 tấn/ngày.
- Làm chủ quá trình thao tác vận hành hệ thống lò nung clanhke xi măng công suất 2500 tấn/ngày.
Viện Vật liệu Xây dựng được giao thực hiện nhiệm vụ 1 và 3 nêu trên có sự phối kết hợp cùng công ty EMC thực hiện một đề tài trọng tâm của dự án.

Đối với nhiệm vụ thứ nhất
Viện Vật liệu Xây dựng đã có bề dày kinh nghiệm trogn công tác nghiên cứu hàng chục năm để nắm bắt và làm chủ kỹ thuật và công nghệ sản xuất xi măng. Trong các dự án đầu tư nhà máy xi măng, đội ngũ cán bộ của Viện đã hoàn toàn đảm nhận được đến giai đoạn lập dự án đầu tư, thiết kế cơ sở toàn bộ dây chuyền. Tuy nhiên giai đoạn thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công phần công nghệ đang là một thử thách lớn, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải tập trung giải quyết trong quá trình thực hiện đề tài.
Qua nghiên cứu thực tiễn công tác tư vấn thiết kế của Việt Nam nói chung và của Viện nói riêng, khó bawn nổi cộm trong việc thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công của chúng ta hiện nay là thiếu các dữ liệu về thiết bị trogn dây chuyền. Đây cũng là điều không tránh khỏi bởi ngành cơ khí chế tạo của Việt Nam chưa phát triển tới trình độ có thể sản xuất ra các thiết bị công nghệ cho ngành công nghiệp xi măng; hầu hết hàng chục dây chuyền xi măng lò quay hiện nay đều phải nhập thiết bị của nước ngoài.
Như vậy vấn đề chủ động trong công tác tư vấn thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công của đề tài đứng trước 2 sự lựa chọn:
+ Một là chờ cho ngành cơ khí chế tạo có đủ sức sản xuất ra các thiết bị công nghệ để trên cơ sở đó thực hiện việc thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công. Đây cũng chính là mục tiêu cuối cùng mà đề tài phải đạt được, song không thể thực hiện được điều này trong thời gian ngắn và như vậy chúng ta triển khai thực hiện nhiệm vụ của đề tài hoàn toàn bị động.
+ Hai là dựa trên cơ sở thiết bị công nghệ của nước ngoài để tổ chức công tác tư vấn thiết kế. Đây là giải pháp khả thi bởi vì sau khi đã lựa chọn, thu thập được các dữ liệu về thiết bị của nước ngoài (vốn rất phong phú) chúng ta có thể hoàn toàn chủ động trong công việc thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công cho công đoạn hệ thống lò nung có công suất lựa chọn. Nếu cơ khí trong nước dù mạnh thì quy trình thiết kế trên cơ sở thiết bị của nước ngoài sẽ đúc kết được nhiều kiến thức, kinh nghiệm hỗ trợ cho công tác thiết kế chế tạo và công nghệ chế tạo thiết bị trong nước, đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ mà các nhóm trong đề tài có được mối liên kết hữu cơ với nhau.

Đối với nhiệm vụ thứ hai
Theo sự phân công, nhiệm vụ này được giao cho công ty EMC chủ trì thực hiện. Công ty này đã từng tham gia lắp máy một số dây chuyền hệ thống lò nung xi măng, trong đó đã tự chế tạo một số thiết bị tại hiện trường trên cơ sở bản vẽ và hướng dẫn của chuyên gia nước ngoài.
Như vậy công ty EMC đã có những kinh nghiệm nhất định trong công tác chế tạo và lắp đặt. Vấn đề ở chỗ phải nghiên cứu để lập ra các bản vẽ thiết kế chế tạo. Điều này có thể thực hiện sau khi dự án xi măng Sông Thao được triển khai, trong đó bản vẽ thiết kế chế tạo một số thiết bị chính trong hệ thống lò quay được Viện Nghiên cứu thiết kế xi măng Thiên Tân (Trung Quốc) cung cấp theo hợp đồng.

Đối với nhiệm vụ thứ ba
Việc xây dựng và hướng dẫn quy trình vận hành các dây chuyền sản xuất xi măng lò quay đã được đội ngũ cán bộ của Viện Vật liệu Xây dựng triển khai nhiều năm và đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Để thực hiện tốt nhiệm vụ mà đề tài đặt ra vấn đề là củng cố các kiến thức đã có, đồng thời phát triển thêm ở mức độ thể hiện quy trình vận hành theo sự tiến bộ của kỹ thuật vi tính (vận hành bằng mô hình)
Từ những điều phân tích trên đây thấy rằng mục tiêu của đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống lò quay cho dây chuyền sản xuất xi măng lò quay công suất 2500T clanhke/ngày” có thể trở thành hiện thực khi mỗi đơn vị và cá nhân tham gia biết phát huy những kiến thức, kinh nghiệm đã có, đồng thời không ngừng rèn luyện kỹ năng, cập nhật những thông tin để giải quyết những vấn đề mấu chốt của đề tài mà hiện nay chúng ta còn đang thiếu hụt.

- Hiệu quả về khoa học công nghệ
+ Lần đầu tiên bằng nội lực khoa học công nghệ, hệ thống lò quay cho dây chuyền sản xuất xi măng lò quay công suất 2500T clanhke/ngày được nghiên cứu thiết kế và chế tạo tại Việt Nam;
+ Thực hiện bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trong công tác nghiên cứu, thiết kế công nghệ sản xuất và chế tạo thiết bị xi măng lò quay;
+ Sau khi dự án khoa học công nghệ hoàn thành, Việt Nam sẽ làm chủ được thiết kế công nghệ sản xuất và thiết kế công nghệ chế tạo một số thiết bị chính, quan trọng của dây chuyền sản xuất xi măng lò quay công suất 2500T clanhke/ngày.

Hiệu quả về kinh tế
+ Sau dự án, suất đầu tư dây chuyền sản xuất xi măng lò quay loại công suất 2500T clanhke/ngày dự kiến giảm từ 10 - 20 USD/tấn
+ Giảm được chi phí thuê chuyên gia nước ngoài trong công tác quản lý dự án, lắp đặt, vận hành, sửa chữa thiết bị dây chuyền so với trước đây.
+ Tỷ lệ nội địa hoá toàn bộ dây chuyền sẽ tăng dần theo các dự án đầu tưu cho các dây chuyền 2500 T clanhke/ngày sẽ đạt 60 - 70% về khối lượng và 40% về giá trị.
+ Đối với các đơn vị chế tạo thiết bị từ chỗ chỉ chế tạo được các thiết bị đơn giản theo thiết kế của Nước ngoài đã vươn lên tự thiết kế chế tạo các thiết bị phức tạp có hàm lượng chất xám cao.
+ Đối với các đơn vị tổng thầu EPC đã quy tụ được lực lượng tư vấn, chế tạo một số thiết bị trong nước có năng lực, triển khai xây dựng các nhà máy xi măng có công suất 2500T clanhke/ngày và lớn hơn.

- Hiệu quả về xã hội
+ Tạo công việc ổn định, duy trì đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và chế tạo thiết bị cho một số trung tâm, viện nghiên cứu chuyên ngành và phát triển năng lực chế tạo cho nhiều nhà máy cơ khí chế tạo.
+ Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm (dây chuyền) do giảm suất đầu tư mà vẫn đạt chất lượng tương đương ngoại nhập.
Kết quả nghiên cứu triển khai đề tài nói riêng và dự án nói chung sẽ được áp dụng ngay vào một số dự án đầu tư xây dựng Nhà máy xi măng công suất 2500T clanhke/ngày (dự án xi măng sông Thao - Phú Thọ, dự án xi măng Đô Lương - Nghệ An...)
Sự thành công của dự án khoa học công nghệ này sẽ tạo ra bước đột phá trogn việc phát triển ngành cơ khí xi măng nói riêng và góp phần để phát triển ngành cơ khí Việt Nam nói chung.

((Nguồn tin: Thông tin Khoa học Công nghệ Vật liệu Xây dựng, số 4/2006)

Các tin khác  
Các tin Liên quan  
Công trình tiêu biểu
Member links
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ LILAMAEMC ĐƯỢC THIẾT KẾ BỞI HAFAST